
Hà thủ ô trắng có tên khoa học là: Streptocaulon juventas. hoặc Tylophora juventas Woodf. Thuộc họ thiên lý: Asclepiadaceae

Đặc điểm hà thủ ô trắng
Cây thảo thuộc dạng cây leo, dài đến 2m hoặc hơn, thân màu nâu đỏ có nhiều lông, càng non càng nhiều lông. Lá mọc đối, mép nguyên lá hình lông chim, có nhiều lông. Toàn cây có nhựa mủ trắng. Hoa màu nâu nhạt hoặc vàng tím, mọc thành xim ngắn. Quả gồm hai đại hình thoi.
Cây thường mọc hoang ở vùng đồi núi. Dùng rễ củ. Thu hoạch tháng 11-12.
Trong củ chứa nhiều tinh bột và tanin pyrogalic
Ngoài các tác dụng nêu trên, chiết xuất Hà Thủ Ô còn biết đến với vai trò chất ức chế ngăn ngừa tế bào ung thư. Bên cạnh đó, thuốc còn giúp làm tăng thị lực, chữa rắn cắn, giảm đau nhức xương khớp. Mặt khác, cũng giống như hà thủ ô đỏ, hà thủ ô trắng cũng giúp chống lão hóa, cải thiện tình trạng tóc bạc sớm và rụng.
Có nơi còn dùng củ và thân lá của cây để chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét. Có người còn dùng dây sắc lấy nước cho phụ nữ sinh đẻ thiếu sữa uống cho có thêm sữa. Cây lá cũng được dùng đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa. Người ta còn dùng củ chữa cơn đau dạ dày.
Hà thủ ô đỏ còn có tên là dạ giao đằng, dạ hợp, địa tinh, khua lình (dân tộc Thái), mằn năng ón (đồng bào Thổ)… Cây Hà thủ ô đỏ, có tên khoa học là Polygonum multiflorum thuộc họ Rau răm (Polygonaceae). Rễ củ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ (Radix Polygoni multiflori) được dùng làm thuốc
Là loại cây dây leo, sống lâu năm. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân và có rễ phồng thành củ.
Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, dài 4 – 8cm, rộng 2,5 – 5cm, đầu nhọn, mép hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ lá. Hoa có 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn) với đầu nhụy hình mào gà.

Đặc điểm hà thủ ô đỏ
Thường mọc hoang ở các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, tập trung chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang. Hiện nay được trồng ở nhiều vùng phía Bắc và phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.
Cây hà thủ ô đỏ chứa 1,7% anthraglycosid, trong đó có emodin, physcion, rhein, chrysophanol. Ngoài ra, trong hà thủ ô đỏ còn có chứa 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,45g các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin).
Khi chưa chế biến, thảo dược này có chứa 7,68% tannin; 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do; 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế biến, còn 3,82% tannin; 0,1127% dẫn chất anthraquinon tự do; 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.
Về công dụng thì chúng khác nhau rất nhiều, nếu Hà thủ ô đỏ được nhiều người sử dụng bởi công dụng của nó đối với người sử dụng tốt hơn nhiều so với Hà thủ ô trắng.
Đặc điểm bên ngoài củ Hà thủ ô rất khó nhận biệt bởi rất giống nhau. Tên gọi phân biệt là do màu sắc của ruột củ Hà thủ ô. Củ Hà thủ ô trắng có ruột màu trắng trong khi ruột của củ Hà thủ ô đỏ là màu đỏ.

Củ Hà thủ ô đỏ ruột màu đỏ

Củ Hà thủ ô trắng có ruột màu trắng
Hà thủ ô trắng là dạng dây leo, thân cành màu nâu đỏ hoặc nâu đỏ, có nhiều lông mịn, khi về già thì nhẵn dần. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng như sữa. Lá mọc đối, phiến lá nguyên hình hình bầu dục, chóp lá nhọn, gốc lá tròn có lông. Hoa có màu nâu nhạt hoặc vàng tía mọc thành xim có rất nhiều lông. Quả đại tách đôi xếp ngang ra hai bên trông như đôi sừng bò, có nhiều lông. Hạt dẹt, có chùm lông mịn.
Hà thủ ô đỏ thân mềm dạng dây leo quấn với nhau, bên ngoài nhẵn có màu xanh tía. Lá mọc so le, cuống dài, hình tim, đầu nhọn. Cả hai mặt lá đều xanh, nhẵn. Hoa nhỏ, màu trắng mọc thành chùm, nhiều nhánh. Hà thủ ô đỏ có quả 3 cạnh, khô, không tự mở
Màu sắc: Củ Hà thủ ô trắng có vỏ ngoài màu trắng xám, ruột bên trong màu trắng. Củ Hà thủ ô đỏ cỏ vỏ ngoài màu nâu đỏ, ruột bên trong có màu đỏ hồng, có lõi màu trắng.
Hình dạng: Củ Hà thủ ô trắng thuôn dài giống củ sắn đồng nai, trong khi củ Hà thủ ô đỏ lại ngắn và mập hơn giống củ khoai lang, có nhiều chỗ lồi lõm.
Miếng lát– mặt cắt ngang: Hà thủ ô đỏ có lớp vỏ ngoài bần màu nâu sậm, lớp bên trong màu nâu hồng có nhiều bột, ở giữa một số phiến có lõi gỗ to, một số phiến không có lõi tùy theo vị trí cắt, còn Củ hà thủ ô trắng khô chắc, thịt trắng, nhiều bột.
Ở dạng bột: Bột Hà thủ ô đỏ có màu nâu hồng đặc trưng, không mùi, vị đắng chát. Còn bột Hà thủ ô trắng thơm nhẹ, vị đắng chát.

Bột Hà thủ ô đỏ có màu nâu hồng đặc trưng
Hà thủ ô trắng không có tác dụng bồi bổ cơ thể như hà thủ ô đỏ.